Chủ nhật,21/10/2018 | 04:06:01 GMT+7

Một số nội dung cơ bản của Luật An ninh mạng

Ngày đăng: 16/07/2018

Luật An ninh mạng (ANM) gồm 7 chương với 43 điều, quy định những nội dung cơ bản về bảo vệ ANM đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm ANM; triển khai hoạt động bảo vệ ANM và quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan.

Luật ANM được xây dựng công phu, kỹ lưỡng với sự tham gia đóng góp ý kiến của các bộ, ngành chức năng và trên 30 doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin lớn trong nước như VNPT, FPT, BKAV cùng nhiều chuyên gia, tập đoàn kinh tế, viễn thông trong và ngoài nước, trong đó có Facebook, Google, Apple, Amazon, Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ – ASEAN, Hiệp hội điện toán đám mây Châu Á; các cơ quan đại diện nước ngoài như Mỹ, Úc, Nhật Bản, Canada…và ý kiến rộng rãi của quần chúng nhân dân.

Kết quả biểu quyết của Quốc hội về dự thảo Luật An ninh mạng. Ảnh: Võ Hải

Bảo vệ ANM đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng của Luật ANM. Luật quy định đầy đủ các biện pháp, hoạt động bảo vệ tương xứng với mức độ quan trọng của hệ thống thông tin này, trong đó nêu ra tiêu chí xác định, lĩnh vực liên quan, quy định các biện pháp như thẩm định ANM, đánh giá điều kiện, kiểm tra, giám sát an ninh và ứng phó, khắc phục sự cố ANM đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật ANM đã dành 1 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, xử lý hành vi xâm phạm ANM nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật Nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ ANM. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.

Chương IV về hoạt động bảo vệ ANM quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra ANM đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức liên quan. Việc triển khai hoạt động bảo vệ ANM được quy định một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan Nhà nước và tổ chức chính trị. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm. Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển ANM, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ ANM, nâng cao năng lực tự chủ về ANM và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này.

Luật ANM quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

Chương V Luật ANM quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ ANM, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ ANM, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực ANM chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về ANM.

Luật ANM quy định trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ ANM được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Luật ANM có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2019.

NGÔ VĂN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *