Thứ ba Ngày 31 Tháng 03 Năm 2020, 04:38:09

Hát Xoan Phú Thọ – Những điều cốt lõi

Ngày đăng: 04/12/2019

Ngày 24-11-2011, hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại. Qua 9 năm triển khai thực hiện của các ban, ngành, đoàn thể và nhân dân, đến nay hát Xoan đã phát huy tốt các giá trị văn hoá trong đời sống tinh thần của nhân dân.

Đến nay đã có hơn 100 câu lạc bộ ở các xã, phường trong toàn tỉnh với 3, 4 thế hệ tham gia; các cơ quan, doanh nghiệp, các trường học đã đưa nội dung vào chương trình giảng dạy và hoạt động.

Hát Xoan tên gốc là hát Xuân; là làn điệu dân ca ra đời sớm nhất, lâu đời nhất của những cư dân nông nghiệp làm lúa nước, được hát vào mùa xuân. Đây là loại hình văn hóa, văn nghệ xuất hiện trước cả thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Theo các nhà khoa học Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Australia, Trung Quốc, những năm đầu của thế kỷ 20 , từ những căn cứ mà các nhà khoa học sưu tầm được đã khẳng định Việt Nam là cái nôi của nền văn minh lúa nước đã xuất hiện cách đây 10 nghìn năm, quá trình lao động, giao tiếp đã nảy sinh tiếng hát, đó chính là hát Xuân. Đây là loại hình nghệ thuật dân gian nảy sinh từ lao động khi Vua Hùng thấy được ý nghĩa tác dụng hát Xuân đối với đời sống xã hội đã ban chiếu chỉ cho muôn dân cần lan truyền phổ cập rộng khắp các làng quê, tổ chức thành những phường hát để phục vụ lễ hội.

Hát Xoan là di sản đầu tiên trên thế giới được UNESCO đồng ý rút khỏi Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, chuyển sang Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Ảnh: TTXVN

Tại sao hát Xuân lại gọi là hát Xoan? Theo sự tích truyền lại thì Lân Lang Vương là con cả của Quốc tổ Lạc Long Quân và Mẫu Âu Cơ, khi hai ông bà chia tay nhau: Lạc Long Quân dẫn 49 người con đi về miền biển, Mẫu Âu Cơ đưa 50 người con lên núi. Lân Lang Vương là con cả được giao ở lại Bảo Chiều trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh, đất Phong Châu để chăm sóc muôn dân trăm họ và giữ gìn bờ cõi nhà nước Văn Lang. Lân Lang Vương lên ngôi vua, lấy hiệu là Hùng Vương. Khi nhà vua đem quân đi dẹp giặc phương Bắc trở về Bảo Điện, trên đường về cung, bất chợt Hoàng Hậu đau bụng, trở dạ mãi chưa sinh nở được. Dân làng An Thái tâu với đức vua rằng: Đằng sau lũy tre làng có người con gái tên là Quế Hoa hát rất hay và múa rất dẻo, có thể hát, múa, mua vui khuây khỏa cho Hoàng Hậu. Nhà vua liền sai người đến đón Quế Hoa về hát, múa mua vui cho Hoàng Hậu. Quả thật, Quế Hoa hát múa đã làm cho Hoàng Hậu vui vẻ an thai, sau đó sinh được công chúa. Thấy được sự hiệu nghiệm của tiếng hát và điệu múa của Quế Hoa, đức vua liền sai người đi đón Quế Hoa về cung đình để hát múa phục vụ và chỉ dụ cho muôn dân phổ cập hát múa Xoan. Còn sở dĩ hát Xuân chuyển thành hát Xoan là do công chúa sinh vào mùa xuân, đức vua đặt tên cho công chúa là Xuân Nương. Để khỏi phạm vào tên húy của công chúa nên hát Xuân được chuyển gọi là hát Xoan từ đấy.

Hát Xoan không chỉ xuất hiện sớm mà được lưu truyền tồn tại qua bao đời nay. Thể loại Xoan cũng rất phong phú, từ nội dung, làn điệu, đến các điệu múa được biến tấu phù hợp với nơi trình diễn, kể cả trang phục cũng được ăn mặc đúng với nghi lễ. Chẳng hạn như hát tế trời cầu thượng thiên thì hai tay chắp lại, hai chân chụm lại ngẩng mặt lên trời để hát, còn hát ở triều đình, hát phục vụ hội đồng Hoàng Triều thì giọng hát, điệu múa khác với phục vụ Hoàng Thượng. Hát phục vụ hoàng Hậu, hoàng tử và Công chúa trang phục, điệu múa hát theo làn điệu; còn hát múa nghi lễ ở cửa đình làng, hát múa cầu Thành hoàng làng, khác với cầu thần linh; hình thức múa hát hội như múa hát khai xuân, khác với hát cầu mùa, hát đúm, khác với hát giao duyên; hát đố chữ khác với hát nhắn gửi. Như nhạc sĩ Lương Nguyên đã phân tích “Hát Xoan có đến mấy chục làn điệu khác nhau trong đời sống xã hội thời đại Văn Lang – Hùng Vương truyền lại”, được chia làm ba phần chính:

– Phần một là: Hát nghi lễ.

– Phần hai là: Hát quả cách.

– Phần ba là: Hát giao duyên.

Hát nghi lễ

Đây là phần lễ hát múa phục vụ các nghi lễ. Những người hát nghi lễ phải được tuyển chọn kỹ càng thể hiện nghiêm túc từ trang phục, giọng hát, điệu múa. Khởi đầu hát nghi lễ là phải có mâm lễ dâng lên. Sau đó hát chào Vua và mời đức Vua về đình làng dự lễ hội. Khi các thủ tục dâng lễ đã hoàn tất. Đoàn kiệu bát công do 8 trai làng trẻ trung khôi ngô tuấn tú chưa vợ, nhà không có tang chế, với đầy đủ trướng, phướn, tiếng chiêng vang lên khởi kiệu rước Vua từ điện về đình. Khi rước có 4 đào Xoan trẻ tuổi chưa chồng, đi dưới gầm kiệu hát điệu phụ giá:

“Tám người trai kiệu bước vào

Tay lót khăn đào rước lấy vua lên

Vui lên thánh đức trị vì

Vua về nghe hát mừng làng sống lâu”

Sau nghi lễ khởi đầu rước kiệu Vua vào nội điện là đến giáo trống và giáo pháo thể hiện hai làn điệu múa và hát trình diễn thành liên khúc. Trong giáo trống được thể hiện hai âm, âm trầm và âm cao (âm trầm lá tầm); (âm cao gọi là vông) muốn thể hiện âm tầm và vông của trống phải có mâm cơm bưng lên mặt trống. Gọi là trống cơm do phường Xoan vỗ vang lên trong tiệc đình làng, cầu mong cho trăm họ no đủ, an hòa phúc lộc được thể hiện bằng lời ca như:

“Trống này be bé mà vẻ rồng vàng

Đôi tay tôi nâng cả đám làng

Trống tôi vỗ bên “tầm” thờ vua, thờ chúa

Trống tôi vỗ lên “Vông”

Thờ Đức Đại vương”

Sau giáo trống, giáo pháo là điệu thơ nhang. Thơ nhang là làn điệu hát dâng hương lên ban thờ Đại Vương, cầu xin vua giáng phúc cho dân làng. Khi múa hát các đoàn, Xoan tây cầm nhang vừa múa vừa hát có câu:

“Cầu vua lên ngự ngai vàng

Vua về nghe hát mừng làng sống lâu”

Trên đây là giới thiệu sơ lược một phần về hát Xoan và nghi lễ, còn hát quả cách thì đa dạng và phong phú hơn nhiều, được thể hiện từ các quan viên, đến mọi tầng lớp trong xã hội phong kiến, thuật ngữ quả cách có hai từ quả và cách, quả là làn điệu, còn cách là trình diễn.

Hát quả cách

Đây là phần hát đa dạng, phong phú của mọi tầng lớp xã hội hát và múa được thể hiện nhiều làn điệu và biến tấu. Hát quả cách xuất hiện sớm nhất bắt nguồn từ lao động nông nghiệp hình thành, có trước cả thời Hùng Vương dựng nước. Hát quả cách đa dạng và phong phú phản ảnh trong lao động thuộc các ngành nghề khác nhau. Theo thống kê chưa đầy đủ đã có 15 quả cách, đó là: Nhàn ngân cách, tràng mai cách, xoan thời cách, mục đồng cách, đồng dẫy cách, hồi liên cách, tứ mùa cách, thuyền chèo cách, từ dân cách, chơi dân cách, kiều giang cách…

Trong 15 quả cách được thể hiện hát Xoan thành 4 nhóm bổ sung:

Nhóm thứ nhất là: Những quả cách kể về các nhân vật lịch sử đó là: Kiều giang cách, hội liên cách và tứ dân cách.

Nhóm thứ 2 là: Những quả cách hát chúc các bậc thánh nhân tiên đế đã được dân chúng tôn vinh là những người đem lại hạnh phúc thịnh vượng cho muôn dân, đó là: Nhàn ngân cách, trùng mai cách, thuyền chèo cách.

Nhóm thứ 3 là: Các quả cách thể hiện những cảm xúc của con người trước thiên nhiên bốn mùa xuân, hạ, thu, đông đó là: Quả cách xoan thời, quả cách hạ thời, thu thời cách, đồng thời cách.

Nhóm thứ 4 là: Những quả cách miêu tả về 4 lớp người trong xã hội nông thôn thời phong kiến thể hiện trên các nghề (dạy học, nghề nông, làm ruộng, chăn tằm, đánh cá…): Đúc đồng, đóng thuyền, làm mộc, làm rèn và nghề thương (người làm nghề buôn bán) được thể hiện các quả cách: Ngư tiểu cách, canh mục cách, tứ dân cách, để thấy sự đa dạng và phong phú của quả cách.

Hát giao duyên

Đây là phần hát Xoan thể hiện tình cảm của con người với con người bằng tình yêu, bằng trí tuệ đó là hát Bỏ Bộ, hát Huề, đố Huề, đố chữ, hát Đúm và hát Bợm.

Hát múa Bỏ Bộ là múa hát minh họa muôn mặt của đời sống sinh hoạt của người nông dân thể hiện những động tác, những công việc, thậm chí từng công đoạn của công việc, nên lời hát đến đâu thì động tác múa trình diễn minh hoạ đến đấy.

Hát Huề là hát đố chữ được hát liền mạch, liền khúc như Huề đố chữ là những câu hát lắt léo để thử trí, thử tài, nhằm thôi thúc, khích lệ tinh thần hiếu học. Thí dụ trong lời ca đó có câu:

“Anh đố em biết chữ gì trên trời rơi xuống?

Anh đố em biết chữ gì làm ruộng nuôi ta?

Anh đố em biết chữ gì nên việc cửa, việc nhà?

Anh đố em biết chữ gì thấy người qua mà chẳng chào?

Một đào Xoan hát đáp lại rằng:

Anh đã đố thì anh phải giảng

Em chẳng biết thời anh giảng giải cho dân làng nghe

Chàng Xoan cất tiếng hát ơ hờ… em không biết thì anh xin
giảng giải

Vũ là mưa trên trời rơi xuống

Ngưu là trâu làm ruộng nuôi ta

Thê là vợ nên giỏi việc cửa, việc nhà

Nộ là giận thấy người qua chẳng chào.

Hát đúm là một nhóm người tập trung làm việc với một nhóm người kia, có thể hát về công việc họ làm và kết quả đạt được khi mưa thuận, gió hòa là gieo trồng đúng ngày, đúng vụ nên có được những vụ mùa bội thu.

Hát Bợm là hát tỏ tình giao duyên một nhóm nam, nhóm nữ, đi lễ, đi trẩy hội, họ gặp nhau hai bên nam nữ thay nhau lúc đầu là hát thăm dò sau là hát tỏ tình rồi hẹn hò. Từ đây sẽ có những cuộc hẹn hò đôi lứa riêng để nên vợ, nên chồng. Bài khái lược diễn giải trên đây để chứng minh giá trị lịch sử văn hóa của người Việt cổ nói lên tầm quan trọng giá trị nghệ thuật phong phú, sâu sắc của hát Xoan trong đời sống cư dân nông nghiệp vùng đất Tổ cội nguồn. Hát Xoan xuất hiện rất sớm, như các nhà khoa học ở các nước tiên tiến trên thế giới đến nghiên cứu nguồn gốc dân tộc Việt Nam đã xác nhận.

Năm 1899, bác sĩ Gide nhà nghiên cứu người Pháp đã công bố quá trình nghiên cứu và nghệ thuật hát cổ ở Việt Nam. Năm 1889, Terrien do coperre, nhà nghiên cứu văn hóa người Anh đã nêu sự đa dạng phong phú của hát Xoan. Nhà khoa học Đức Robert von Heine Geldern cho rằng, những con người tạo ra nền văn minh Đông Sơn đã tạo nên sức sống được thể hiện bằng nghệ thuật điêu khắc và những âm hưởng ca hát dân gian phong phú.

Hai nhà khoa học Mỹ W.G Solheim Jorhman khẳng định văn hóa Hòa Bình ở Việt Nam là văn hóa bản địa, không hề chịu ảnh hưởng chi phối từ bên ngoài cả sản phẩm vật chất và sản phẩm tinh thần là hát Xoan. Nhà khoa học Nga: N.Vavilov, nhà khoa học Pháp Medeleine colani và nhà văn hóa Trung Quốc Trương Quang Trực sau khi khai quật ở vùng chân núi Lam Gran – Hòa Bình đã phát hiện và kết luận: “Việt Nam đã có một nền văn hóa tiền sử phát triển rực rỡ, tiên tiến sáng tạo và sống động chưa từng thấy ở nơi nào trên thế giới. Đây thực sự là nôi văn minh của nhân loại”.

Tổ tiên người Việt ngay từ thời tiền sử đã để lại cho thế hệ mai sau những tài sản vô giá, không chỉ có giá trị về mặt vật chất mà còn có cả một kho tàng văn hóa tinh thần phong phú đã ngấm vào xương tủy của dòng máu Lạc Hồng qua ngàn đời đã bồi đắp nên bản lĩnh Việt Nam để gìn giữ non sông gấm vóc bảo vệ nền độc lập dân tộc. Những cặp nam nữ múa hát sôi động ở mọi nơi, mọi chốn tồn tại hàng vạn năm. Chính là những bản tráng ca, bản hùng ca, nó không chỉ là tài sản vô giá của Việt Nam, mà còn là vốn quý của nhân loại đã được UNESCO công nhận.

Để bảo tồn và phát huy hát Xoan, bản trường ca của nhân loại thì mỗi người dân Việt Nam nói chung và mỗi người dân Phú Thọ nói riêng tự đặt ra câu hỏi cần phải làm gì đây để bản trường ca của nhân loại vang vọng mãi mãi muôn đời.

(Theo QĐND Online)

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *