Thứ tư,25/04/2018 | 12:30:02 GMT+7

Xử phạt đào ngũ theo quy định của pháp luật

Ngày đăng: 26/03/2018

Đào ngũ là hành vi rời bỏ hàng ngũ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ đã bị kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng hoặc trong thời chiến. Đào ngũ được thể hiện ở hành vi quân nhân tự ý rời bỏ đơn vị một cách trái phép không có ý định trở lại nhằm trốn tránh nghĩa vụ. Đào ngũ trực tiếp xâm phạm chế độ nghĩa vụ quân sự, chế độ phục vụ của sĩ quan trong Quân đội, làm giảm sức mạnh chiến đấu của Quân đội, ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị.
Đối với hành vi đào ngũ, tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm mà hành vi này có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đào ngũ.
Về xử phạt hành chính: Điều 8 Nghị định 120/2013/NĐ-CP ngày 09/10/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu quy định: Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau: Đào ngũ khi đang làm nghĩa vụ quân sự phục vụ tại ngũ trong thời bình nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng mà đơn vị Quân đội cấp Trung đoàn và tương đương đã gửi giấy thông báo đào ngũ và cắt quân số cho Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan quân sự cấp huyện; Hành vi chứa chấp, bao che quân nhân đào ngũ.
Ngoài bị xử phạt vi phạm hành chính, người vi phạm còn bị buộc hoàn trả toàn bộ quân trang được cấp và buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự theo quy định của Luật nghĩa vụ quân sự hiện hành.
Cụ thể hóa hành vi “chứa chấp, bao che quân nhân đào ngũ” nêu tại Điều 8 Nghị định số 120/2013/NĐ-CP, Thông tư 95/2014/BQP ngày 07/7/2014 của Bộ Quốc phòng về hướng dẫn thi hành Nghị định số 120/NĐ-CP ngày 09/3/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, cơ yếu quy định gồm một trong các hành vi sau: Để quân nhân đào ngũ ở nhà mình hoặc ở cơ quan, tổ chức mà không khai báo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền; Đưa quân nhân đào ngũ đi trốn hoặc cung cấp phương tiện, vật chất để quân nhân đào ngũ lẩn trốn; Làm các giấy tờ để hợp thức cho hành vi đào ngũ.
Về truy cứu trách nhiệm hình sự: Theo quy định của pháp luật thì người nào đào ngũ đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị truy tố trách nhiệm hình sự. Theo Bộ Luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14 đã được Quốc hội khóa XIV, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/6/2017, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/1/2018 thì hình phạt của tội đào ngũ được quy định theo 3 mức khung hình phạt là cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; phạt tù từ 2 năm đến 7 năm; phạt tù từ 5 năm đến 12 năm. Việc quyết định khung hình phạt phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi đào ngũ và chức vụ, cấp bậc của người đào ngũ.
Điều 402, Bộ Luật hình sự năm 2015 nêu rõ:
Người nào rời bỏ hàng ngũ Quân đội nhằm trốn tránh nghĩa vụ trong thời chiến hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Là chỉ huy hoặc sĩ quan; Lôi kéo người khác phạm tội; Mang theo, vứt bỏ vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự hoặc tài liệu bí mật quân sự, gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm:
Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: Trong chiến đấu; Trong khu vực có chiến sự; Trong khi thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn; Trong tình trạng khẩn cấp; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm.
NGÔ VĂN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *