Thứ ba Ngày 16 Tháng 07 Năm 2019, 07:45:36

Luật Đặc xá năm 2018 và hướng dẫn thi hành

Ngày đăng: 05/07/2019

Đặc xá là sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước đối với người phạm tội bị kết án phạt tù (APT), đồng thời khuyến khích họ ăn năn hối cải, tích cực học tập, lao động cải tạo để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước, trở thành người có ích cho xã hội.

Để cụ thể hóa truyền thống nhân đạo của dân tộc, chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và để phù hợp với tinh thần của Hiến pháp năm 2013, với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, đồng thời khắc phục những khó khăn, bất cập trong thực hiện đặc xá những năm qua, nhất là trong 10 năm thực hiện Luật Đặc xá năm 2017, ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV đã thông qua Luật Đặc xá số 30/2018/QH14 (Luật Đặc xá năm 2018).

Luật Đặc xá.

Luật Đặc xá năm 2018, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2019  gồm 6 chương với 39 điều quy định về nguyên tắc, thời điểm, trình tự, thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện đặc xá; điều kiện, quyền và nghĩa vụ của người được đề nghị đặc xá; quyền và nghĩa vụ của người được đặc xá.

Luật Đặc xá năm 2018 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và khắc phục những tồn tại, bất cập sau hơn 10 năm thi hành Luật Đặc xá năm 2007, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các nước trong lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật về đặc xá; đồng thời, bảo đảm thống nhất trong hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. 

So với quy định của Luật Đặc xá năm 2007, Luật Đặc xá năm 2018 đã  tăng 3 điều (trong đó bỏ 2 điều, bổ sung 5 điều), sửa đổi, bổ sung 34 điều. Luật Đặc xá năm 2018 có nhiều nội dung mới, thay đổi về điều kiện của người được đề nghị đặc xá, trường hợp không đề nghị đặc xá nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước; về hồ sơ, trình tự, thủ tục đề nghị đặc, thực hiện quyết định đặc xá; trách nhiệm của cơ quan, tổ chức trong việc thực hiện đặc xá. 

Quy định chi tiết Điều 11, Điều 19, khoản 1 Điều 21 của Luật Đặc xá năm 2018 về thực hiện Quyết định về đặc xá, điều kiện, hồ sơ đề nghị đặc xá, thực hiện Quyết định đặc xá đối với người nước ngoài, trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá và thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá, ngày 14/6/2019 của Chính phủ đã ban hành Nghị định số 52/2019/NĐ-CP (NĐ52/2019) quy định chi tiết một số điều của Luật Đặc xá

NĐ52/2019 gồm 3 chương với 10 điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/8/2019. Đối tượng áp dụng trong NĐ52/2019 là người đang chấp hành APT có thời hạn, người bị kết APT chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn, người đang được tạm đình chỉ chấp hành APT; cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; người nước ngoài cư trú ở Việt Nam, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có liên quan đến hoạt động đặc xá.

Theo NĐ52/2019, người được đề nghị đặc xá phải đảm bảo các điều kiện:

Một là: Người bị kết APT có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt và được xếp loại chấp hành APT khá hoặc tốt theo quy định của pháp luật về thi hành án (THA) hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 11 Luật Đặc xá; là người đã chấp hành nghiêm nội quy trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ, tích cực học tập, lao động, cải tạo và các quý đã đủ thời gian xếp loại trong quá trình chấp hành APT được xếp loại khá hoặc tốt.

Hai là: Người bị kết APT đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác thuộc một trong các trường hợp sau: Đã thi hành xong nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án; có quyết định đình chỉ thi hành án của Thủ trưởng cơ quan THA dân sự có thẩm quyền; có văn bản đề nghị của người được THA hoặc đại diện hợp pháp của người được THA về việc không phải thi hành nghĩa vụ trả lại tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác theo bản án, quyết định của Tòa án đối với tài sản không thuộc sở hữu nhà nước.

Ba là: Người bị kết APT đã thi hành được một phần nghĩa vụ tài sản, bồi thường thiệt hại, nghĩa vụ dân sự khác nhưng do lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn thuộc trường hợp chưa có điều kiện thi hành tiếp phần còn lại là trường hợp người đó và gia đình không còn tài sản để THA hoặc có tài sản nhưng giátrị tài sản chỉ đủ để thanh toán chi phí cưỡng chế THA hoặc tài sản theo quy định của pháp luật không được kê biên, xử lý để THA và không có thu nhập hoặc có thu nhập chỉ bảo đảm cuộc sống tối thiểu cho người phải THA, người mà họ có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Bốn là: Người bị kết APT đã lập công lớn trong thời gian chấp hành APT  thuộc một trong các trường hợp sau: Đã có hành động giúp trại giam, trại tạm giam, cơ quan THA hình sự Công an cấp huyện, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự phát hiện, truy bắt, điều tra, xử lý tội phạm; cứu được tính mạng người khác hoặc tài sản lớn (có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên) của Nhà nước, của tập thể, của công dân trong thiên tai, hỏa hoạn; có những phát minh, sáng kiến có giá trị lớn hoặc thành tích đặc biệt xuất sắc khác được trại giam, trại tạm giam, cơ quan THA hình sự Công an cấp huyện xác nhận. Người đã có quyết định thi hành APT lập công lớn trong thời gian chờ đưa đến trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện để chấp hành APT cũng được coi là lập công lớn trong thời gian chấp hành APT.

Năm là: Người bị kết APT đang mắc bệnh hiểm nghèo mắc một trong các bệnh như ung thư giai đoạn cuối; liệt; lao nặng kháng thuốc; xơ gan cổ chướng; suy tim độ III trở lên; suy thận độ IV trở lên; bệnh HIV giai đoạn lâm sàng IV đang có nhiễm trùng cơ hội, không có khả năng tự phục vụ bản thân và có tiên lượng xấu, nguy cơ tử vong cao hoặc mắc bệnh khác mà được Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp Quân khu trở lên kết luận bằng văn bản là không tự phục vụ bản thân, nguy cơ tử vong cao.

Sáu là: Người bị kết APT đang ốm đau thường xuyên mà không tự phục vụ bản thân đang phải nằm điều trị tại bệnh xá, bệnh viện liên tục từ ba tháng trở lên hoặc không liên tục nhưng phải nằm điều trị tại bệnh viện từ ba lần trở lên, mỗi lần từ một tháng trở lên, không tự phục vụ bản thân, có kết luận bằng văn bản của Hội đồng giám định y khoa hoặc bệnh viện cấp tỉnh, cấp Quân khu trở lên.

Bảy là: Người bị kết APT có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và bản thân là lao động duy nhất trong gia đình quy định tại điểm e khoản 3 Điều 11 Luật Đặc xá là trường hợp gia đình của người bị kết APT đang lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn do tai nạn, ốm đau, thiên tai, hỏa hoạn hoặc sự kiện bất khả kháng khác dẫn đến không còn tài sản gì đáng kể, không có thu nhập hoặc thu nhập dưới mức chuẩn hộ nghèo hoặc có bố đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con ốm nặng kéo dài, không có người chăm sóc mà người đó là lao động duy nhất trong gia đình, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình người đó cư trú xác nhận là đúng.

Ngoài ra, NĐ52/2019 còn quy định cụ thể hồ sơ; trình tự, thủ tục lập hồ sơ, danh sách người đủ điều kiện được đề nghị đặc xá; thẩm định hồ sơ đề nghị đặc xá; thực hiện Quyết định đặc xá đối với người nước ngoài; trách nhiệm thi hành…

NĐ52/2019 còn nêu rõ: Khi có Quyết định về đặc xá và Quyết định thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá của Chủ tịch nước, Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các cơ quan, tổ chức liên quan giúp Chính phủ, Hội đồng tư vấn đặc xá triển khai thực hiện Quyết định về đặc xá, Quyết định thành lập Hội đồng tư vấn đặc xá.

NGÔ VĂN

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *