Thứ hai Ngày 09 Tháng 12 Năm 2019, 08:41:25

Đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động 50, góp phần xây dựng đơn vị chính quy, VMTD

Ngày đăng: 21/11/2019

QK2 – Trong những năm qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan, đơn vị, Ban chỉ đạo Cuộc vận động “Quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” (CVĐ50) tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền cho cán bộ, chiến sĩ, các cấp, các ngành  trong LLVT Quân khu về mục đích, ý nghĩa chiến lược của CVĐ50. Hưởng ứng CVĐ50, công tác quản lý, khai thác vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT), duy trì nền nếp chế độ bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa VKTBKT của các đơn vị có chuyển biến tích cực, khắc phục triệt để khâu yếu, mặt yếu. Sức lan tỏa của CVĐ50 đã trở thành động lực quan trọng, thúc đẩy LLVT Quân khu thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị được giao, góp phần xây dựng đơn vị chính quy, VMTD…

Cuộc vận động 50 luôn được các cơ quan, đơn vị lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, thiết thực, tạo sức lan tỏa sâu rộng.

Thực tế cho thấy, Quân khu 2 gồm 9 tỉnh, địa bàn rộng, địa hình hiểm trở, khí hậu thời tiết khắc nghiệt; cơ sở hạ tầng, giao thông, điều kiện kinh tế chậm phát triển; khả năng huy động tiềm lực tại chỗ cho các hoạt động công tác kỹ thuật (CTKT) còn hạn chế; tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội một số địa bàn vẫn tiềm ẩn nguy cơ mất ổn định… Mặt khác, Quân khu hiện đang quản lý khối lượng lớn VKTBKT, chủ yếu đã cũ, qua nhiều năm sử dụng nên tình trạng kỹ thuật và đồng bộ thấp; hệ thống kho tàng đã được quy hoạch và được đầu tư xây dựng cơ bản, tuy nhiên ở một số huyện biên giới nhà kho vũ khí – đạn chưa bảo đảm diện tích cất chứa theo quy định; cơ sở bảo đảm kỹ thuật cơ bản đủ về số lượng ở từng đơn vị nhưng một số trang thiết bị công nghệ đã cũ và lạc hậu; trình độ tay nghề của cán bộ, nhân viên kỹ thuật (CB, NVKT) chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của VKTB mới; cơ sở vật chất, trang thiết bị, mô hình học cụ bảo đảm cho huấn luyện còn thiếu và lạc hậu… Những “rào cản” đó tác động không nhỏ, chi phối, ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý, giữ gìn và bảo đảm an toàn cho VKTBKT…

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa, tầm quan trọng của Cuộc vận động 50, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Quân khu đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, tổ chức thực hiện nghiêm túc, sát thực tiễn. Chính vì vậy, CVĐ50 ngày càng phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu, đem lại hiệu quả thiết thực.

Theo đó, trên cơ sở quán triệt Chỉ thị số 18-CT/TW, Kết luận số 45-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng và các chỉ thị, hướng dẫn của Bộ Quốc phòng về tổ chức thực hiện Cuộc vận động “Quản lý, khai thác VKTBKT tốt, bền, an toàn, tiết kiệm và an toàn giao thông” trong Quân đội thời kỳ CNH-HĐH đất nước và Nghị quyết lãnh đạo thực hiện 3 khâu đột phá “Huấn luyện, diễn tập, SSCĐ; Tổ chức biên chế và cải cách hành chính; Xây dựng chính quy, chấp hành kỷ luật, pháp luật” của Đảng ủy Quân khu, cấp uỷ, chỉ huy các cấp đã tập trung lãnh đạo, chỉ huy, chỉ đạo toàn diện các mặt CTKT; đồng thời phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền các địa phương quán triệt đầy đủ nghị quyết, chủ trương của Đảng, Nhà nước về công tác Quốc phòng – An ninh, tích cực huy động mọi tiềm lực vật chất, ngân sách tại chỗ đầu tư xây dựng, củng cố cơ sở kỹ thuật và bảo đảm kỹ thuật cho VKTB. Đặc biệt, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu đã ban hành các văn bản, chỉ thị về đẩy mạnh thực hiện CVĐ50 và tăng cường sự lãnh đạo đối với công tác bảo đảm trật tự, an toàn giao thông trong LLVT Quân khu; chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tiếp tục đưa nội dung, mục tiêu CVĐ50 vào nghị quyết của các cấp ủy; gắn thực hiện CVĐ50 với phong trào Thi đua Quyết thắng tạo sự lan tỏa tại các đơn vị cơ sở, đến từng cán bộ, chiến sĩ. 

Để nâng cao hiệu quả thực hiện CVĐ50, Ban Chỉ đạo 50 Quân khu và các cơ quan, đơn vị thường xuyên được kiện toàn, thực hiện tốt chức năng, đúng nhiệm vụ. Nhằm cụ thể hóa nội dung CVĐ50, các đơn vị đã triển khai, mở rộng Cuộc vận động đến tất cả các ngành (Tham mưu, Chính trị, Hậu cần, Kỹ thuật); hướng Cuộc vận động xuống cơ sở với những hoạt động phong phú, thiết thực, hiệu quả. Trên cơ sở nội dung của Cuộc vận động, các cấp, các ngành, các đơn vị đã cụ thể hóa thành các nội dung, chỉ tiêu phù hợp với đặc điểm, nhiệm vụ. Cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị đã triển khai sâu rộng với nhiều biện pháp cụ thể, như: Ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo; lập kế hoạch tổ chức thực hiện; tổ chức tọa đàm, thi tìm hiểu; quản lý tốt việc cán bộ, chiến sĩ sử dụng phương tiện khi tham gia giao thông trong ngày nghỉ, giờ nghỉ; duy trì chặt chẽ, nghiêm túc, chất lượng, hiệu quả, an toàn công tác bảo quản vũ khí trong giờ kỹ thuật, ngày kỹ thuật; quán triệt, giáo dục, tuyên truyền sâu rộng tới toàn thể cán bộ, chiến sĩ nắm chắc mục đích, ý nghĩa, nội dung, mục tiêu của Cuộc vận động; đẩy mạnh xây dựng mô hình đơn vị điểm về CTKT và thực hiện CVĐ50 gắn với xây dựng đơn vị VMTD " Tiêu biểu, mẫu mực".

Các đơn vị trong toàn Quân khu đã thống nhất hệ thống sổ sách đăng ký, thống kê, mẫu biểu các cấp theo từng chuyên ngành; bảo đảm đủ hệ thống bảng biển đối với các nhà kho, khu kỹ thuật tạo sự chuyển biến mạnh mẽ xây dựng chính của từng ngành, từng cơ quan, đơn vị; duy trì và thực hiện tốt công tác kiểm kê, điểm nghiệm 0h ngày 01-01 hàng năm, kịp thời cập nhật diễn biến số lượng, chất lượng, chủng loại VKTBKT; thường xuyên tổ chức kiểm tra, phân chọn, sắp xếp theo quy hoạch, có sơ đồ kho, thẻ lô, thẻ đống, thẻ vật tư hàng hoá giúp người chỉ huy, cán bộ, nhân viên CMKT các cấp nắm chắc số lượng, chủng loại, tình trạng đồng bộ của VKTBKT hiện có và đăng ký, quản lý đúng quy định; tăng cường kiểm tra công tác quản lý VKTB, kho tàng; tổ chức phúc tra kiểm định, đánh giá chất lượng VKTB và chỉ đạo hướng dẫn đơn vị sử dụng thiết bị, dụng cụ đo kiểm để tự đánh giá chất lượng; kết quả kiểm tra, phúc tra độ chính xác hàng năm đạt từ 95-97%; loại bỏ các nguy cơ mất an toàn, không để xảy ra cháy nổ kho tàng; chăm lo xây dựng, đào tạo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhân viên CMKT, nhất là đội ngũ trực tiếp quản lý, khai thác trang bị, chú trọng tuyển chọn, đào tạo, phát triển những người có phẩm chất, năng lực tốt đồng thời rà soát, loại bỏ các đối tượng có phẩm chất, năng lực chuyên môn yếu làm nhiệm vụ ở các kho và các vị trí trọng yếu; quản lý số, chất lượng, đồng bộ nhà kho, nhà xe, khu kỹ thuật các cấp…

Các ngành, các đơn vị đã khai thác VKTBKT đúng mục đích, đúng tính năng kỹ chiến thuật, đúng kế hoạch và tính chất nhiệm vụ; chấp hành nghiêm điều lệ, các quy định, quy trình kỹ thuật; sử dụng đi đôi với BQ, BD, sửa chữa đồng bộ và niêm cất; chấp hành nghiêm các quy định về đăng ký, quản lý; thực hiện tốt chế độ kiểm tra kỹ thuật và quy trình công nghệ; tổ chức tốt công tác đào tạo, gửi đào tạo về sử dụng trang bị công nghệ mới cho hàng trăm CB, NVKT; bồi dưỡng, bổ túc tập huấn cho các đối tượng tại các đơn vị và Quân khu cho hàng nghìn lượt CB, NVKT; tổ chức thi nâng bậc thợ kỹ thuật các chuyên ngành và lái xe ô tô, TTG, tàu thuyền, vận hành phương tiện thủy; nghiên cứu ứng dụng các tiến bộ KHKT, các quy trình công nghệ và áp dụng công nghệ mới tiếp tục được đẩy mạnh đã góp phần nâng cao chất lượng HLCĐ, năng suất lao động, chất lượng sản phẩm.

Quân khu đã chú trọng và thực hiện nhiều biện pháp an toàn trong quản lý, khai thác VKTBKT, như: Đầu tư củng cố cơ sở kỹ thuật, đóng mới tủ súng; mua sắm trang thiết bị cải thiện điều kiện môi trường làm việc cho người lao động. Trong các dự án xây dựng cơ bản kho, trạm đã chú trọng và thực hiện đúng các tiêu chuẩn về an toàn, xây dựng đồng bộ các hệ thống phụ trợ, bảo vệ, bảo đảm an toàn cho con người và vũ khí, vật tư, trang thiết bị. Thường xuyên làm tốt công tác kiểm tra an toàn kho tàng, an toàn đối với thiết bị áp lực, thiết bị nâng hạ, thiết bị điện, điện tử, chiếu-xạ … theo các quy định hiện hành. Thực hiện tốt việc bảo đảm trang bị, phương tiện bảo hộ cho người lao động; tổ chức Lễ mít tinh hưởng ứng Tháng hành động về an toàn, vệ sinh lao động hàng năm; phối hợp chặt chẽ với cơ quan quân lực, chính sách, tài chính, quân y thực hiện đúng, đủ, kịp thời các chế độ, tiêu chuẩn bồi dưỡng độc hại, bảo đảm chính sách cho CB, NVKT trực tiếp làm việc trong môi trường nguy hiểm, nặng nhọc, độc hại theo quy định. Triển khai và duy trì chặt chẽ mọi biện pháp để bảo đảm an toàn kho tàng, trạm xưởng; làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục; nắm chắc tình hình an ninh chính trị địa bàn, diễn biến tư tưởng, quản lý và làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; duy trì chặt chẽ công tác tuần tra, canh gác, quản lý người ra vào trong quá trình tiếp nhận, cấp phát VKTBKT; phối hợp chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, lực lượng công an, nhân dân địa phương và các đơn vị bạn xây dựng vành đai địa bàn an toàn; thường xuyên điều chỉnh, bổ sung kế hoạch và luyện tập các phương án phòng thủ bảo vệ, chống phá hoại, cháy nổ, mất mát; quán triệt và thực hiện nghiêm các chỉ thị, hướng dẫn về quy chế bảo mật, an toàn mạng máy tính, Internet; quy định sử dụng mạng Internet, mạng lan trong cơ quan, đơn vị.

Cấp uỷ, chỉ huy các đơn vị đã tăng cường quán triệt, giáo dục các chỉ thị, nghị quyết, nghị định về các giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn và chống ùn tắc giao thông; tổ chức học tập Luật Giao thông đường bộ, đưa các nội dung về an toàn giao thông vào chương trình huấn luyện tại chức hàng năm của cơ quan, đơn vị. Duy trì công tác kiểm định xe ôtô; phối kết hợp với lực lượng công an, đơn vị bạn trên địa bàn tổ chức các đội kiểm tra xe quân sự, nhất là các dịp lễ, tết, ngày nghỉ để kịp thời chấn chỉnh những sai phạm; kiên quyết dừng hoạt động đối với phương tiện không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật, không đủ giấy tờ và không đội mũ bảo hiểm. Tiếp tục triển khai và chỉ đạo xây dựng đơn vị điểm về an toàn giao thông…

Quán triệt, thực hiện “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”, các đơn vị đã có nghị quyết, chương trình hành động “Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí”; ban hành các quy định về sử dụng VKTB, quy hoạch cơ sở kỹ thuật và đầu tư có hiệu quả, tránh dàn trải, lãng phí; thường xuyên giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ ý thức tự lực, tự cường; tăng cường áp dụng tiến bộ KHKT, quy trình công nghệ mới, các sáng kiến, giải pháp kỹ thuật trong thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, BQ, BD, sửa chữa, khai thác VKTB, vật tư xăng dầu; nâng cao tuổi thọ, độ tin cậy của VKTBKT; bảo đảm an toàn kho tàng, an toàn giao thông. Sử dụng nguồn ngân sách, vật tư kỹ thuật đúng mục đích, có hiệu quả bảo đảm kịp thời cho nhiệm vụ SSCĐ, huấn luyện và các nhiệm vụ khác của LLVT Quân khu…

Nhờ đẩy mạnh CVĐ 50, các đơn vị đã quản lý chặt chẽ, khai thác VKTBKT tốt, bền; đảm bảo an toàn trong lao động, an toàn cơ sở kỹ thuật, không để xảy ra cháy nổ; thực hành tiết kiệm; bảo đảm an toàn giao thông; phong trào thi đua phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đẩy mạnh, sôi nổi, rộng khắp và được ứng dụng rộng rãi trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, giảm được sức người, tiết kiệm thời gian, ngân sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả các mặt công tác, góp phần bảo đảm kịp thời VKTBKT cho nhiệm vụ SSCĐ, huấn luyện, xây dựng LLVT Quân khu trong tình hình mới.

                    Thiếu tướng TRẦN ANH DU
Phó Tư lệnh, Trưởng ban Chỉ đạo CVĐ50 Quân khu

 

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *