Thứ năm Ngày 24 Tháng 10 Năm 2019, 04:50:20

“Chiếc cần câu thoát nghèo” ở cực Tây Tổ quốc

Ngày đăng: 02/08/2019

Bài 1: Sứ mệnh giúp dân thoát nghèo

QK2 – Sau 20 năm thành lập, đứng chân trên vùng biên giới cực Tây Tổ quốc, Đoàn KT-QP 379, Quân khu 2 đã hoàn thành tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, góp phần không nhỏ tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương, triển khai các chương trình, dự án, xóa đói giảm nghèo cho các đồng bào dân tộc.

Đến nay, đời sống vật chất và tinh thần của người dân gần 40 xã biên giới đã cải thiện rất nhiều. Sự thay da đổi thịt của một vùng đất biên giới xa xôi, rừng núi hiểm trở thấm đẫm biết bao mồ hôi, công sức của những người lính Cụ Hồ – Những đảng viên ngày đêm “3 bám, 4 cùng” (3 bám: Bám đơn vị, bám địa bàn, bám chủ trương, chính sách; 4 cùng: Cùng ăn, cùng ở, cùng làm và cùng nói tiếng đồng bào). Như câu nói của người dân nơi đây, các anh là những người làm tròn sứ mệnh mang “chiếc cần câu thoát nghèo” cho đồng bào, xây dựng vùng đất cực Tây Tổ quốc trở thành phên giậu vững chắc biên giới.

NHỮNG NGÀY ĐẦU GIAN KHÓ

Từ thành phố Điện Biên vượt gần 300km, chúng tôi đến huyện Mường Chà, Nậm Pồ, Mường Nhé. Suốt hành trình dài, cảnh vật, bản làng đổi thay nhiều. Những ngôi nhà bê tông cốt thép mới được xây dựng thay cho nhưng nhà tranh vách đất. Ruộng lúa nước san sát, thay thế dần những nương lúa bậc thang nằm cheo leo lưng chừng núi. Và niềm vui nhất là những con đường đã thay màu áo mới. Không còn là những đoạn đường đất lầy lội mà cơ bản đã được phủ nhựa, xe chạy bon bon. Chỉ dăm năm về trước, khi Điện Biên hứng chịu trận lũ lịch sử, cây cầu Sam Lang, xã Nà Hỳ, huyện Nậm Pồ bị lũ cuốn trôi, chúng tôi đi từ thành phố Điện Biên vào Nà Hỳ phải đi mất mấy ngày, vì đường lầy lội, cheo leo, có đến mấy chục điểm sạt lở núi.

Ôn lại câu chuyện cũ với Đại tá Nguyễn Văn Huân, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Đoàn KT-QP 379, anh Huân tươi cười chia sẻ: “Những năm gần đây, được sự đầu tư của Nhà nước, Bộ Quốc phòng, Đoàn KT-QP 379 phối hợp với chính quyền địa phương đã làm mới, mở rộng và nâng cấp một số tuyến đường giao thông chính. Huyết mạch giao thông được nối liền, cuộc sống  người dân vùng cực Tây mới có sự thay đổi đáng kể. Từ những năm thập niên 90, thế kỷ trước vùng đất này còn rất hoang sơ, khó khăn trăm bề”. Năm 1998, tình hình an ninh chính trị trật tự an toàn xã hội ở một vài địa phương xuất hiện diễn biến có xu hướng phức tạp. Đặc biệt là các thế lực thù địch đẩy mạnh các hoạt động chống phá, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng; chúng ráo riết tiến hành kích động đồng bào di, dịch cư tự do về các tỉnh phía Tây, giáp biên giới Việt – Lào, âm mưu thành lập “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị.

Trước diễn biến tình hình mới, Bộ Quốc phòng ra Quyết định thành lập Đoàn Quốc phòng – Kinh tế Mường Chà (có phiên hiệu là Đoàn 22-12, tiền thân Đoàn KT-QP 379). Ngày ấy, khu vực hoạt động của Đoàn gồm các xã Mường Toong, Mường Nhé, huyện Mường Tè tỉnh Điện Biên và xã Chà Cang, Chà Nưa huyện Mường Lay, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên) có diện tích tự nhiên 3.636,24km2. Tuy nhiên, địa hình khu vực đa số bị chia cắt bởi những dãy núi cao, sông suối. Khí hậu khắc nghiệt. Mùa đông hanh khô, giá rét. Mùa hè gió lốc kèm theo mưa đá, thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ quét, sạt lở đất. Địa bàn là nơi tụ cư và sinh sống của 13 dân tộc. Trong đó chủ yếu là dân tộc Mông (62,3%), Thái (16,7%), Hà Nhì (7,4%), Dao (3,13%), Khơ-mú (3,1%)… Mật độ dân số thấp, trung bình 15-16 người/km2. Hầu hết các xã chưa có điện, trường học, trạm y tế. Tỷ lệ hộ nghèo hơn 65%. Tình trạng mù chữ và tái mù chữ phổ biến (hơn 70%).

Cán bộ Đoàn KT-QP 379 hướng dẫn người dân xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé kỹ thuật chăn nuôi vịt.

Trong điều kiện an ninh, quốc phòng có diễn biến phức tạp, điều kiện kinh tế khó khăn, cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP 379 có nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và giành thắng lợi trên địa bàn chiến lược Tây Bắc; cán bộ đảng viên đơn vị ngày đêm   tăng cường bám cơ sở, phối hợp cùng cấp ủy, chính quyền địa phương làm công tác tuyên truyền, vận động nhân dân xây dựng cơ sở chính trị vững mạnh; tham gia thực hiện các dự án phát triển kinh tế, văn hóa, củng cố quốc phòng, an ninh trên địa bàn, góp phần cùng nhân dân và các dân tộc từng bước xóa đói giảm nghèo.

KÝ ỨC NGƯỜI ĐI VỠ ĐẤT

Trong ký ức của những người lính “tiên phong mở đất”, nơi đóng quân của Đoàn ngày ấy còn chưa chính thức có đường vào, mà chỉ là những lối mòn luồn theo khe núi, vực sâu, xuyên qua địa bàn các xã. Đi từ thị xã Lai Châu trước đây (nay là thị xã Mường Lay) vào có đường ô tô nhưng cũng chỉ đến Km45; còn từ Km45 đi bộ xuyên con đường mòn 40 cây số. Đồng bào cùng bộ đội chuyển hàng từ thị xã vào, tất cả là gùi, sang lắm thì có ngựa thồ.

Chúng tôi đến xã Nà Hì, huyện Nậm Pồ gặp Trung tá Trần Ngọc Tâm, Đội trưởng Đội sản xuất và xây dựng cơ sở số 8, Đoàn KT-QP 379 có thâm niên gần 20 năm gắn bó với nhiệm vụ kinh tế – quốc phòng ở miền đất này. Anh Tâm kể: “Năm 2002, tôi đang công tác tại Trung đoàn 148, Sư đoàn 316 thì nhận được quyết định điều động lên xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La công tác. Ngày ấy, đường từ sông Mã vào huyện Sốp Cộp vô cùng khó khăn. Mưa lũ bị chia cắt. Tôi phải đi từ thành phố Điện Biên lên. Mất hàng tuần trèo đèo lội suối. Trời mưa tầm tã, ba lô quân tư trang ướt hết. Vắt bám, cắn chi chít khắp người. Vào đến xã Mường Lèo, đôi chân tôi như khụy xuống. Đội sản xuất chưa có nhà ở, chúng tôi phải ở tạm nhà dân một năm”. Mảnh đất này, khi đó rất nhiều không, “không đường, điện, trạm…”. Một năm anh Tâm gần như mất liên lạc với gia đình. Viết 2, 3 lá thư về nhà và cũng có 2,3 lá thư gia đình gửi lên nhưng không biết vì sao anh Tâm và gia đình đều không nhận được.

Với nhiều người dân lúc đó, hình ảnh bộ đội vừa gần gũi nhưng cũng có điều gì đó xa lạ. Họ ít giao tiếp, cởi mở trò chuyện. Để lấy cảm tình của người dân, hằng ngày, những cán bộ đảng viên “3 bám, 4 cùng” như anh Tâm cùng đồng chí, đồng đội phải bắt đầu từ những việc nhỏ, thiết thực như học tiếng, đi trồng rau, tăng gia cùng dân. Hướng dẫn người dân cách ăn ở vệ sinh, phòng bệnh dịch. Có nhiều bản trong xã hầu như không có nhà vệ sinh. Người dân đi vệ sinh quanh nhà, nắng mưa mùi rất hôi thối, xuất hiện ổ dịch bệnh. Vận động hướng dẫn người dân làm nhà vệ sinh, anh Tâm và các đồng đội phải vận động người dân chặt tre. Các anh phải tự tay dựng nhà vệ sinh, làm mẫu cho các gia đình.

Ở vùng núi rộng lớn, dân cư thưa thớt, mỗi gia đình cách nhau vài quả núi, ruộng nương canh tác xa xôi. Đến gặp người dân đã khó, vận động họ thay đổi phương thức sản xuất, ổn định đời sống, phát triển kinh tế là hành trình vất vả hơn nhiều. Trung úy QNCN Đặng Văn Khoa, nhân viên Đội sản xuất và xây dựng cơ sở số 8 bồi hồi khi nhớ lại, năm 2013, khi anh Khoa làm nhiệm vụ ở xã Na Tông, huyện Điện Biên: “Ngày đó, ở địa phương đa phần là người nghiện. Số hộ có súng tự chế rất nhiều. Vì vậy, khi đi dân vận chúng tôi thường đi cùng lãnh đạo xã, bản”. Thời điểm đó, vận động bà con rất khó. Có những bản ở xa như bản Sơn Tống B, tỷ lệ thiếu đói cao. Nước sinh hoạt cũng thiếu. Chủ yếu tắm khe suối nên đi những hộ ở xa, vài ngày không tắm. Ăn uống khắc khổ, anh em chủ yếu phải ăn mì tôm sống. Đi đường mệt, nhờ lãnh đạo địa phương giới thiệu vào nhà dân nghỉ tạm. Nhưng cũng chỉ vào những ngày tránh mưa, nhờ nhà dân trải tấm áo mưa xuống đất ngả lưng. Ngày nắng, mệt đâu nghỉ đấy khi vệ đường, khi thì gốc cây. Đặc sản vùng này, ruồi vàng, bọ chó, vắt nhiều, đi công tác bị ruồi, bọ đốt, cộng với đường xa thiếu đói, anh Khoa và các đồng đội ốm, sốt cũng là chuyện cơm bữa.

Gặp gỡ một số cán bộ, người dân ở huyện Nà Hì và huyện Mường nhé chúng tôi được biết, vùng đất cực Tây khi ấy, nhà của người dân “toàn tạm”, lợp, thưng bằng tranh, tre, nứa, lá. Người dân chủ yếu từ nơi khác đến, nếp ăn uống, sinh hoạt còn mang nặng tính du canh du cư; hầu như không trâu bò; có gà lợn nhưng không chuồng trại; dùng que chọc lỗ tra hạt là chủ yếu. Người dân kiếm được gì ăn nấy; hàng hóa không lưu thông, có làm ra, săn bắt cũng không bán được bởi từ các bản xa về trung tâm xã cũng mất cả ngày đường, chuyện đứt bữa, thiếu gạo là thường xuyên. Muối mặn với đồng bào còn quý hơn vàng. Phong tục tập quán còn nhiều lạc hậu. Việc cưới xin kéo dài đến vài ba ngày. Người ốm thì mời thầy mo đến nương hoặc về cúng tại nhà. Người chết để lưu vài ngày, thậm chí để hàng tuần mới đem chôn. Chỉ có đàn ông, con trai từ 20 tuổi đến 40 tuổi nói tiếng Kinh, còn con gái hầu như không biết nói tiếng Kinh, có biết lõm bõm cũng không dám tiếp xúc vì e dè, sợ.

Sẻ chia khó khăn cùng đồng bào, cán bộ, chiến sĩ Đoàn KT-QP cũng gặp không ít khó khăn, thiếu thốn của đơn vị mới thành lập. Đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ quê dưới xuôi lên công tác. Xa gia đình, người thân, nhà cửa tạm bợ, điều kiện sinh hoạt, công tác từ con số không… Khó khăn là vậy, nhưng bằng bản lĩnh, ý chí và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cũng như sự chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, tiên phong, gương mẫu của người đảng viên, người lính Đoàn KT-QP 379 đã từng bước vượt qua khó khăn, thử thách ban đầu, phát huy nội lực và sức mạnh tập thể ổn định cuộc sống, đứng vững trên vùng kinh tế – quốc phòng cực Tây Tổ quốc. 

20 năm thực hiện nhiệm vụ ở khu Kinh tế – Quốc phòng Mường Chà, Đoàn KT-QP 379 đã vinh dự được Chủ tịch nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba và Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì; Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ thi đua và Bằng khen cùng nhiều Cờ thưởng thi đua, Bằng khen của Quân ủy Trung ương, BQP; Ban Dân vận Trung ương; Tổng cục Chính trị; Bộ tư lệnh Quân khu 2 và UBND tỉnh Điện Biên. 

Đoàn KT-QP 379 đã hỗ trợ, tham mưu xây dựng, củng cố các đoàn thể chính trị xã hội ở cơ sở, tạo nguồn phát triển đảng, khắc phục tình trạng “trắng đảng viên” trên 50 bản, ở gần 40 xã. Bằng cách làm “đến từng nhà, rà từng bản”, cán bộ, chiến sĩ xuống các  bản xa xôi thực hiện “4 cùng” với nhân dân, vận động bà con không tin theo các loại “tà đạo”, không nghe theo kẻ xấu; tuyên truyền đồng bào dần loại bỏ các hủ tục lạc hậu như tảo hôn, ma chay dài ngày.     

Bài, ảnh: HÀ BÁCH – VŨ THƯ

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *